Mật ong dú thay đổi theo thời gian, nên ranh giới giữa bình thường và hỏng không rõ như với mật ong thường.
Kết quả là nhiều chai tốt bị đổ bỏ oan, và cũng có chai đã hỏng mà vẫn dùng.
Mức một, bình thường: chua đậm hơn lúc mới, có vài bọt li ti, mùi vẫn thơm, vẫn có hậu ngọt. Dùng bình thường.
Mức hai, đã đi xa: bọt nhiều hơn, chua rõ hơn, hậu ngọt nhạt đi nhưng chưa có mùi lạ. Nên dùng nhanh, không để thêm.
Mức ba, nên bỏ: mở nắp xì mạnh, bọt trào, mùi cồn như rượu nhẹ, vị gắt cổ và mất hẳn hậu ngọt.
Phân biệt bằng mùi và vị, không phải bằng lượng bọt.
| Dấu hiệu | Bình thường | Nên dùng nhanh | Nên bỏ |
|---|---|---|---|
| Bọt | Vài bọt li ti | Nhiều hơn | Trào khi mở |
| Mùi | Thơm, chua thanh | Chua rõ | Mùi cồn |
| Vị | Chua dịu, hậu ngọt | Chua hơn, hậu nhạt | Gắt, mất hậu |
| Nắp | Bình thường | Hơi căng | Phồng, bật ra |
| Bề mặt | Sạch | Có bọt | Có mảng lạ |
Có mảng mốc thật trên bề mặt: mảng xanh, trắng hoặc đen, có sợi. Đừng hớt bỏ rồi dùng tiếp, vì phần dưới đã bị ảnh hưởng.
Có mùi lạ không phải mùi chua men: mùi hôi, mùi mốc, mùi hoá chất.
Chai từng bị dính nước rõ, ví dụ đổ nước vào hoặc thìa ướt cho vào nhiều lần.
Trong ba trường hợp này thì bỏ, đừng tiếc. Chai mật không đáng để phải cân nhắc.
Đun làm bay bớt nước và diệt men, nên nghe có vẻ giải quyết được vấn đề.
Nhưng nó cũng làm mất phần lớn hương và những thứ khiến mật ong dú khác biệt. Kết quả là được một chai đặc hơn nhưng không còn là mật ong dú đúng nghĩa.
Và nó không đảo ngược được phần đã lên men. Vị gắt vẫn còn đó.
Vì vậy nếu chai đã tới mức nên bỏ thì bỏ, đừng cố cứu.
Phần lớn chai hỏng đều do một trong bốn nguyên nhân: chai chưa khô khi rót, cất chỗ nóng, thìa ướt, hoặc chai lớn mở ra mở vào quá lâu.
Bốn thứ này đều phòng được mà không tốn gì.
Nếu cả mẻ mua về cùng bị thì vấn đề nằm ở khâu thu và đóng chai của người bán, nên báo lại cho họ.
Ở Mật Ngon, khách báo lại chuyện này được xem là góp ý có ích chứ không phải phàn nàn.
Còn nếu chỉ một chai trong nhiều chai cùng mẻ bị, thì nguyên nhân thường nằm ở chỗ cất hoặc cách dùng của chai đó. Lúc đó xem lại bốn thói quen ở trên là ra. Thường thì nguyên nhân nằm ở cái thìa hoặc ở chỗ để chai, và hai thứ này chiếm phần lớn các trường hợp gặp phải. Sửa được hai thói quen đó thì gần như không còn chai nào phải bỏ nữa.
Không. Đó là quá trình bình thường của mật ong dú.
Không nên. Phần dưới đã bị ảnh hưởng, nên bỏ cả chai.
Không đảo ngược được phần đã lên men, mà còn làm mất hương.
Báo lại người bán. Vấn đề thường nằm ở khâu thu hoặc đóng chai.
Không hẳn. Xem mùi và vị. Hạn trên nhãn là mốc tham khảo.
Sản lượng thấp, giá không rẻ, có mùa hết hàng và vị lại chua. Vậy điều gì đã giữ người ta gắn bó lại qua nhiều năm liền.
Không ít khách sau vài mùa mua mật thì muốn tự nuôi thử vài tổ. Những điều nên biết trước khi bước hẳn sang phía bên kia.
Khi khách biết hỏi đúng câu, người bán buộc phải nắm rõ nguồn gốc. Vai trò của người mua trong việc giữ chất lượng chung.
Không phải ai cũng hợp, và nói thẳng điều đó thì tốt hơn cho cả hai bên. Vài trường hợp nên cân nhắc kỹ trước khi quyết mua.
Món quà hiếm và có câu chuyện, nhưng cũng là món dễ bị hiểu nhầm nhất. Kinh nghiệm từ cả phía người tặng lẫn người nhận.
Tổng hợp các hiểu nhầm hay gặp nhất và lý do thật đằng sau từng cái một. Phần lớn đều đến từ việc đem so với mật ong thường.
Hương vị mật ong dú và cách thưởng thức: vị chua đặc trưng, khác biệt theo vùng hoa, cách dùng hằng ngày, pha chế, kết hợp món ăn. Người đọc là người tiêu dùng chứ không phải người nuôi.